Cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng: cách đọc, quan hệ với lạm phát và thanh khoản thị trường

Cung tiền M2 là tổng phương tiện thanh toán, gồm tiền mặt ngoài ngân hàng, tiền gửi và giấy tờ có giá. Bài giải thích cách đọc M2, tăng trưởng tín dụng, tín dụng/GDP, LDR và quan hệ với lạm phát, thanh khoản thị trường.

Ảnh minh họa kiểu editorial nền kem, sọc đỏ rượu bên trái, tiêu đề Cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng, chữ M2 chìm lớn ở góc dưới phải

Cung tiền M2 (broad money) là tổng phương tiện thanh toán, gồm tiền mặt ngoài ngân hàng, tiền gửi và giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành.

Tăng trưởng tín dụng (credit growth) là tốc độ tăng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng, và cũng là nguồn tạo ra phần lớn tiền gửi mới trong M2.

Với CFO và nhà đầu tư, đây là chỉ báo sớm về chi phí vốn, áp lực giá và thanh khoản thị trường. Bài viết giải thích cách đọc, kèm ví dụ số giả định.

Những điểm chính

  • M0 là tiền của ngân hàng trung ương; M2 chủ yếu là tiền gửi do ngân hàng thương mại tạo ra khi cho vay.
  • Cho vay tạo ra tiền gửi; số nhân tiền chỉ là xấp xỉ sách giáo khoa.
  • M2 còn chịu tác động của ngoại hối và tài khoản Chính phủ, nên có thể tăng khác nhịp tín dụng.
  • Tín dụng/GDP, credit-to-GDP gap và LDR đo mức đòn bẩy và độ căng thanh khoản.
  • MV = PQ là đẳng thức kế toán; vòng quay tiền không ổn định nên không thể suy lạm phát chỉ từ M2.

M0, M1, M2 khác nhau thế nào?

M0, M1, M2 khác nhau ở độ thanh khoản: M0 là tiền ngân hàng trung ương, M1 thêm tiền gửi thanh toán, M2 thêm tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm.

M0 hay tiền cơ sở (monetary base) gồm tiền mặt lưu hành và dự trữ của ngân hàng tại ngân hàng trung ương. Một số tài liệu dùng M0 chỉ cho tiền mặt.

Thước đo Thành phần chính Ví dụ
M0 Tiền mặt lưu hành + dự trữ tại ngân hàng trung ương Tờ 500.000 đồng; tiền gửi của ngân hàng tại NHNN
M1 Tiền mặt ngoài ngân hàng + tiền gửi không kỳ hạn Tài khoản thanh toán của Công ty Minh Phát
M2 M1 + tiền gửi có kỳ hạn, tiết kiệm + giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng Sổ tiết kiệm 12 tháng; chứng chỉ tiền gửi

Định nghĩa có thể đổi. Từ kỳ tháng 5/2020, Fed gộp tiền gửi tiết kiệm vào M1, làm M1 của Mỹ tăng khoảng 11.200 tỷ USD dù M2 không đổi.

Ngân hàng “tạo ra tiền” như thế nào?

Ngân hàng thương mại tạo tiền khi cho vay: khoản vay được ghi có vào tài khoản người vay, tạo ra một khoản tiền gửi mới.

Bank of England (2014) ước tính tiền gửi ngân hàng chiếm khoảng 97% tiền rộng tại Anh cuối năm 2013, tiền mặt chỉ khoảng 3%.

Cho vay tạo tiền gửi diễn ra ra sao?

Giả định Ngân hàng Thành An cho Công ty Minh Phát vay 50 tỷ đồng. Tài sản tăng 50 tỷ đồng cho vay, nguồn vốn tăng 50 tỷ đồng tiền gửi, và M2 tăng ngay 50 tỷ đồng.

Khi Minh Phát trả tiền cho nhà cung cấp ở ngân hàng khác, tiền gửi chỉ chuyển chỗ; Thành An thanh toán bằng dự trữ.

Chiều ngược lại cũng đúng: khi Minh Phát trả nợ gốc, tiền gửi bị xóa cùng khoản vay. Trả nợ hủy tiền giống như cho vay tạo tiền.

Số nhân tiền tính thế nào và giới hạn ở đâu?

Mô hình số nhân tiền (money multiplier) cho rằng tiền cơ sở được nhân lên qua nhiều vòng gửi – cho vay, giới hạn bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Số nhân đơn giản = 1 ÷ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Giả định tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10% và tiền gửi ban đầu 100 tỷ đồng:

Vòng Tiền gửi (tỷ đồng) Dự trữ 10% Cho vay tiếp
Vòng 1 100,0 10,0 90,0
Vòng 2 90,0 9,0 81,0
Vòng 3 81,0 8,1 72,9
Giới hạn lý thuyết 1.000,0 100,0 900,0

Tính thêm tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi (c) và tổng tỷ lệ dự trữ (r):

M2 = [(1 + c) ÷ (r + c)] × M0

Với M0 giả định 1.000 nghìn tỷ đồng, c = 15%, r = 10%, số nhân là 4,6 và M2 bằng 4.600 nghìn tỷ đồng. Nếu r lên 12%, số nhân còn khoảng 4,26.

Giới hạn của mô hình nằm ở chiều nhân quả. Theo Bank of England, ngân hàng cho vay trước rồi mới tìm dự trữ, và ngân hàng trung ương cung ứng dự trữ theo nhu cầu.

Số nhân vì thế chỉ là tỷ lệ quan sát sau sự việc. Giới hạn thật là lợi nhuận, rủi ro, quy định an toàn, cầu vay và lãi suất điều hành.

Tăng trưởng tín dụng và M2 liên hệ ra sao?

Tín dụng là nguồn chính làm M2 tăng, nhưng hai chỉ số không bằng nhau vì M2 còn chịu tác động của ngoại hối, tài khoản Chính phủ và vốn dài hạn của ngân hàng.

Cách đọc chuẩn là bảng tổng hợp tiền tệ (monetary survey). Bên nguồn là M2; bên tài sản là tài sản ngoại tệ ròng (NFA) và tài sản trong nước ròng (NDA).

ΔM2 = ΔTín dụng cho nền kinh tế + ΔNFA + ΔTín dụng ròng cho Chính phủ + ΔKhoản mục khác (ròng)

Ví dụ giả định, đơn vị nghìn tỷ đồng, đầu kỳ dư nợ tín dụng 10.000 và M2 11.000:

Cấu phần thay đổi trong năm Nghìn tỷ đồng
Tín dụng cho nền kinh tế 1.200
Ngân hàng trung ương mua ngoại tệ (NFA) 150
Kho bạc tăng tiền gửi (tín dụng ròng cho Chính phủ) (50)
Ngân hàng tăng vốn, phát hành trái phiếu dài hạn (200)
M2 tăng 1.100

Tín dụng tăng 12% (1.200 ÷ 10.000) trong khi M2 chỉ tăng 10% (1.100 ÷ 11.000), do các cấu phần ngoài tín dụng.

Câu hỏi đúng vì thế là M2 tăng từ nguồn nào: tăng nhờ tín dụng sản xuất khác về chất so với tăng nhờ mua ngoại tệ.

Đọc số liệu M2 và tín dụng của Việt Nam cần lưu ý gì?

Cần xác định đúng cơ quan công bố, kỳ số liệu và gốc so sánh, vì cùng một con số có thể được trình bày theo nhiều cách.

Theo siêu dữ liệu của Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm tổng hợp tổng phương tiện thanh toán. Kỳ công bố là quý và năm.

  • So với đầu năm (YTD): thường dùng trong điều hành, mang tính mùa vụ mạnh vào quý IV.
  • So với cùng kỳ (YoY): loại bỏ phần lớn mùa vụ, hợp hơn khi so với GDP danh nghĩa.
  • Phạm vi: tín dụng ngân hàng chưa gồm trái phiếu doanh nghiệp hay vay nước ngoài.

Số liệu trên báo chí nên được đối chiếu với nguồn chính thức và ghi rõ kỳ trước khi đưa vào mô hình.

Tỷ lệ tín dụng/GDP và tín dụng/huy động (LDR) nói lên điều gì?

Tín dụng/GDP đo đòn bẩy của nền kinh tế, còn LDR (loan-to-deposit ratio) đo mức ngân hàng dùng tiền gửi để cho vay, tức độ căng thanh khoản.

Tín dụng/GDP = Dư nợ cuối kỳ ÷ GDP danh nghĩa 4 quý gần nhất

LDR = Dư nợ cho vay ÷ Tiền gửi khách hàng

Giả định dư nợ 13.000 và GDP danh nghĩa 10.000 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ tín dụng/GDP là 130%. Mức tuyệt đối này chưa đủ để kết luận cao hay thấp.

Credit-to-GDP gap của BIS đo gì?

Credit-to-GDP gap là độ lệch giữa tỷ lệ tín dụng/GDP và xu hướng dài hạn của nó, tính bằng bộ lọc Hodrick-Prescott một phía với λ = 400.000.

Tín dụng ở đây là tổng tín dụng cho khu vực tư nhân phi tài chính từ mọi nguồn, không chỉ ngân hàng. BIS dùng nó làm chỉ báo cảnh báo sớm khủng hoảng ngân hàng.

Nếu xu hướng dài hạn trong ví dụ là 120%, khoảng chênh là 10 điểm phần trăm: tín dụng tăng nhanh hơn đáng kể so với năng lực tạo thu nhập.

Hướng dẫn Basel (2010) dùng ngưỡng 2 và 10 điểm phần trăm để tham chiếu đệm vốn phản chu kỳ (countercyclical capital buffer), tối đa 2,5% tài sản có rủi ro.

Credit-to-GDP gap (điểm %) Đệm vốn tham chiếu (%)
Từ 2 trở xuống 0
6 1,25
Từ 10 trở lên 2,5

Giữa hai ngưỡng, đệm tăng tuyến tính: (6 − 2) ÷ (10 − 2) × 2,5% = 1,25%. Basel nhấn mạnh đây là điểm tham chiếu, cơ quan quản lý vẫn phải dùng phán đoán.

Bộ lọc HP kém tin cậy ở cuối chuỗi và ở nền kinh tế đang đào sâu tài chính (financial deepening), nên cần đọc cùng vị trí trong chu kỳ kinh tế.

LDR cho CFO biết điều gì?

Giả định một ngân hàng có dư nợ 9.000 tỷ đồng và tiền gửi 10.000 tỷ đồng, LDR là 90%: dư địa cho vay từ tiền gửi hiện có đã hẹp.

Khi LDR hệ thống cao mà tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động, ngân hàng thường nâng lãi suất huy động, rồi chuyển chi phí sang lãi vay.

Phương trình MV = PQ giúp hiểu lạm phát thế nào và giới hạn của nó?

MV = PQ cho biết chi tiêu danh nghĩa bằng lượng tiền nhân vòng quay tiền, nên tiền tăng nhanh hơn sản lượng thực có thể tạo áp lực giá.

M × V = P × Q

V là vòng quay tiền (velocity), P là mặt bằng giá, Q là sản lượng thực; P × Q là GDP danh nghĩa. Dạng xấp xỉ: %ΔM + %ΔV ≈ %ΔP + %ΔQ.

Ví dụ tính với số giả định

Năm gốc M2 = 10.000 và GDP danh nghĩa = 12.000 nghìn tỷ đồng, suy ra V = 1,2. Năm sau M2 tăng 12%, V giảm 3%, GDP thực tăng 6%.

Chỉ tiêu Năm gốc Năm sau
M2 (nghìn tỷ đồng) 10.000 11.200
Vòng quay V 1,200 1,164
GDP danh nghĩa = M × V 12.000,0 13.036,8
Tăng GDP danh nghĩa – 8,64%
Chỉ số giá tăng (1,0864 ÷ 1,06 − 1) – 2,49%

Phép xấp xỉ cho 12% − 3% − 6% = 3%, lệch khoảng 0,5 điểm. Nếu V giữ nguyên 1,2, giá tăng khoảng 5,66%: riêng giả định về V làm kết quả lệch hơn 3 điểm.

Giới hạn của MV = PQ

MV = PQ là đẳng thức kế toán, không phải lý thuyết nhân quả. V thường được suy ngược từ M và GDP, nên phương trình luôn đúng nhưng không tự dự báo.

V đổi theo lãi suất và thói quen thanh toán. Tiền mới còn có thể chảy vào cổ phiếu, bất động sản, đẩy giá tài sản trước khi xuất hiện trong lạm phát tiêu dùng.

Thanh khoản hệ thống ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán ra sao?

Thanh khoản hệ thống tác động đến chứng khoán qua hai kênh: chi phí vốn thể hiện ở lãi suất, và lượng tiền dư so với nhu cầu giao dịch của kinh tế thực.

Kênh thứ nhất là định giá: lãi suất giảm làm suất chiết khấu giảm, kéo P/E hợp lý lên và làm tiền gửi kém hấp dẫn.

Kênh thứ hai là thanh khoản dư (excess liquidity), thường đo xấp xỉ bằng chênh lệch tốc độ tăng M2 và GDP danh nghĩa.

Thanh khoản dư (xấp xỉ) = %ΔM2 − %ΔGDP danh nghĩa

Trong ví dụ trên, phần dư là 12% − 8,64% = 3,36 điểm phần trăm: lượng tiền không cần cho giao dịch thực và có thể tìm đến tài sản tài chính.

Quan hệ này không chặt: tiền dư có thể nằm yên trong tiền gửi kỳ hạn, vào bất động sản hoặc ra nước ngoài, tùy lãi suất thực.

Hình dạng đường cong lợi suất giúp xác nhận tín hiệu từ M2 qua kỳ vọng lãi suất và tăng trưởng.

CFO nên theo dõi chỉ số nào?

CFO nên theo dõi một bộ nhỏ: tăng trưởng tín dụng, M2 so với GDP danh nghĩa, lãi suất liên ngân hàng và chênh lệch tín dụng – huy động.

Chỉ số Tín hiệu cần chú ý Hàm ý cho doanh nghiệp
Tăng trưởng tín dụng (YoY) Chậm lại rõ Đàm phán sớm khoản vay đáo hạn
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động Chênh lệch nới rộng nhiều quý Lãi suất vay có xu hướng tăng
Lãi suất liên ngân hàng qua đêm Tăng đột biến Giữ đệm tiền mặt lớn hơn
%ΔM2 so với %ΔGDP danh nghĩa Chênh dương lớn kéo dài Rủi ro giá đầu vào; cân nhắc khóa giá

Các chỉ số này nên đi vào phần giả định của kịch bản vĩ mô trong kế hoạch kinh doanh, theo ba mức cơ sở, thuận lợi và bất lợi.

Giả định Công ty Phú Gia có dư nợ ngắn hạn 200 tỷ đồng. Nếu lãi suất vay tăng 1,5 điểm, chi phí lãi tăng thêm khoảng 3 tỷ đồng mỗi năm.

Tín dụng dồi dào là lúc tái cấp vốn và kéo dài kỳ hạn, gắn với cấu trúc vốn mục tiêu.

Trước khi kết luận chính sách đang nới hay thắt, nên quy đổi lãi suất danh nghĩa sang lãi suất thực.

Những sai lầm thường gặp

Sai lầm thường đến từ việc coi một chỉ số đơn lẻ là tín hiệu nhân quả, hoặc bỏ qua định nghĩa và gốc so sánh.

  • Coi số nhân tiền là cơ chế điều khiển: tăng tiền cơ sở không tự động làm tín dụng tăng.
  • Đồng nhất M2 với tín dụng: M2 còn chịu tác động của ngoại hối và tiền gửi Kho bạc.
  • Suy lạm phát trực tiếp từ M2: V thay đổi, và tiền mới có thể vào giá tài sản.
  • Trộn YTD với YoY: so tín dụng từ đầu năm với GDP cùng kỳ dễ cho kết luận sai.
  • Bỏ qua điểm gãy chuỗi: đổi định nghĩa, như M1 của Mỹ năm 2020, tạo tăng trưởng không có thật.

Câu hỏi thường gặp

M2 tăng nhanh có chắc gây lạm phát không?

Không chắc. Lạm phát còn phụ thuộc vòng quay tiền, năng lực sản xuất và nơi tiền mới chảy đến. M2 tăng nhanh hơn GDP danh nghĩa là tín hiệu rủi ro, không phải dự báo.

Vì sao tín dụng và M2 thường tăng lệch nhau?

Vì M2 còn đổi theo tài sản ngoại tệ ròng, tín dụng ròng cho Chính phủ và vốn dài hạn của ngân hàng. Khi bán ngoại tệ, M2 có thể tăng chậm hơn tín dụng.

Credit-to-GDP gap bao nhiêu là đáng lo?

Theo hướng dẫn Basel 2010, khoảng chênh trên 2 điểm phần trăm bắt đầu kích hoạt đệm vốn tham chiếu, tối đa ở 10 điểm. Đây chỉ là mốc tham khảo.

Doanh nghiệp nhỏ có cần theo dõi M2 không?

Không cần chi tiết, nhưng nên theo dõi tín dụng và lãi suất huy động. Hai chỉ số này báo trước khả năng gia hạn vay và chi phí lãi trong 6–12 tháng tới.

Nguồn tham khảo

Đọc tiếp

Bài viết mang tính kiến thức tham khảo, không phải tư vấn tài chính hay đầu tư. Số liệu của Thành An, Minh Phát, Phú Gia và mọi ví dụ tính toán là giả định.

Cập nhật: (GMT+7)12 phút đọc