Cán cân thanh toán: tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và tác động đến tỷ giá, dự trữ ngoại hối

Cán cân thanh toán là bản ghi mọi giao dịch giữa người cư trú và không cư trú của một nền kinh tế. Bài giải thích tài khoản vãng lai, tài khoản vốn, tài khoản tài chính, tác động đến tỷ giá và cách đo mức đủ của dự trữ ngoại hối.

Ảnh minh họa phong cách editorial nền kem, nhãn Kinh tế vĩ mô, tiêu đề Cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối, chữ BOP chìm màu đỏ rượu ở góc dưới phải

Cán cân thanh toán (Balance of Payments – BOP) là bản ghi mọi giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú của một nền kinh tế trong một kỳ.

Với CFO doanh nghiệp xuất nhập khẩu và nhà đầu tư chuyên nghiệp, BOP cho biết ngoại tệ vào ra từ đâu, bền vững không, để đọc áp lực tỷ giá.

Bài viết giải thích các tài khoản theo chuẩn BPM6 của IMF, kèm bảng cán cân giả định và cách đo mức đủ của dự trữ ngoại hối.

Những điểm chính

  • BOP gồm tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản tài chính; nhờ ghi sổ kép, tổng luôn bằng 0.
  • Tài khoản vãng lai bằng tiết kiệm quốc gia trừ đầu tư trong nước (CA = S − I).
  • Chất lượng nguồn tài trợ quan trọng hơn dấu cộng trừ: FDI ổn định hơn vốn gián tiếp và vay ngắn hạn.
  • Thặng dư cán cân tổng thể tạo áp lực tăng giá nội tệ hoặc làm dự trữ tăng; thâm hụt thì ngược lại.
  • Mức đủ của dự trữ nên xem cùng lúc ba thước đo: số tháng nhập khẩu, Greenspan–Guidotti và ARA của IMF.

Cán cân thanh toán là gì?

Cán cân thanh toán là báo cáo thống kê tóm tắt giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một quý hoặc năm. Chuẩn quốc tế hiện hành là BPM6 của IMF.

Tiêu chí phân định là tính cư trú (residency), không phải quốc tịch. Công ty FDI đặt nhà máy tại Bắc Ninh là người cư trú của Việt Nam.

BOP là chỉ tiêu dòng (flow). Đối ứng là vị thế đầu tư quốc tế (International Investment Position – IIP), đo tồn lượng tài sản và nợ với nước ngoài.

Theo BPM6, BOP gồm ba cấu phần: tài khoản vãng lai (current account), tài khoản vốn (capital account) và tài khoản tài chính (financial account).

Tài khoản vãng lai gồm những phần nào?

Tài khoản vãng lai gồm hàng hóa, dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thu nhập thứ cấp. Tổng của chúng cho biết nền kinh tế cho vay hay đi vay ròng với thế giới.

CA = Hàng hóa ròng + Dịch vụ ròng + Thu nhập sơ cấp ròng + Thu nhập thứ cấp ròng

  • Hàng hóa: xuất khẩu trừ nhập khẩu, tính theo giá FOB, nên thường lệch với số liệu hải quan ghi nhập khẩu theo giá CIF.
  • Dịch vụ: vận tải, du lịch, bảo hiểm, tài chính, phí bản quyền; hay thâm hụt ở nước thuê vận tải nước ngoài.
  • Thu nhập sơ cấp (primary income): lương lao động ngắn hạn, lãi vay, cổ tức, lợi nhuận của doanh nghiệp FDI.
  • Thu nhập thứ cấp (secondary income): chuyển giao không đối ứng, gồm viện trợ vãng lai và kiều hối.

Ở nền kinh tế thu hút nhiều FDI, thu nhập sơ cấp thường âm lớn. Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài được ghi chi, kể cả phần giữ lại tái đầu tư.

Tài khoản vốn và tài khoản tài chính đọc thế nào?

Tài khoản vốn ghi chuyển giao vốn như xóa nợ, và mua bán tài sản phi tài chính không do sản xuất; quy mô thường rất nhỏ.

Tài khoản tài chính cho biết vãng lai được tài trợ bằng gì, chia thành năm nhóm chức năng. FDI thường ổn định nhất; FPI và vay ngắn hạn dễ đảo chiều nhất.

Nhóm chức năng Nội dung chính
Đầu tư trực tiếp (FDI) Từ 10% quyền biểu quyết; vốn góp, lợi nhuận tái đầu tư
Đầu tư gián tiếp (FPI) Cổ phiếu dưới 10%, trái phiếu
Phái sinh tài chính Kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn
Đầu tư khác Vay nợ, tín dụng thương mại, tiền gửi
Tài sản dự trữ Ngoại tệ, vàng tiền tệ, SDR

BPM6 ghi tài khoản tài chính là tài sản ròng tăng trừ nợ phải trả ròng tăng. Vì vậy, FDI chảy vào làm tăng nợ phải trả và mang dấu âm.

Nhiều ngân hàng trung ương lại trình bày dạng phân tích: dòng vào dương, dòng ra âm. Khi tra dữ liệu gốc, cần kiểm tra quy ước dấu trước.

Vì sao tổng cán cân thanh toán luôn bằng 0?

Tổng cán cân thanh toán luôn bằng 0 vì mỗi giao dịch được ghi bút toán kép: một bên ghi có, một bên ghi nợ với giá trị bằng nhau.

CA + KA − FA + Lỗi và sai sót = 0 (quy ước BPM6)

Dữ liệu đến từ hải quan, ngân hàng, khảo sát doanh nghiệp và ước tính kiều hối. Chênh lệch giữa các nguồn dồn vào khoản lỗi và sai sót (net errors and omissions).

Lỗi và sai sót âm lớn, kéo dài thường được xem là dấu hiệu dòng vốn ra không được ghi nhận. Đây là giả thuyết cần kiểm chứng, không phải kết luận.

Bảng cán cân thanh toán giả định

Bảng dưới là cán cân một năm của nền kinh tế giả định, trình bày dạng phân tích: dòng vào dương, dòng ra và dự trữ tăng ghi âm.

Khoản mục Tỷ USD
Xuất khẩu hàng hóa (FOB) 380,0
Nhập khẩu hàng hóa (FOB) (350,0)
Dịch vụ ròng (thu 20,0; chi 32,0) (12,0)
Thu nhập sơ cấp ròng (thu 4,0; chi 22,0) (18,0)
Thu nhập thứ cấp ròng (thu 16,0; chi 2,0) 14,0
A. Tài khoản vãng lai 14,0
B. Tài khoản vốn 0,2
FDI ròng (vào 18,0; ra 2,0) 16,0
Đầu tư gián tiếp ròng (2,0)
Vay nợ và đầu tư khác ròng (10,0)
C. Tài khoản tài chính (trừ dự trữ) 4,0
D. Lỗi và sai sót (5,0)
E. Cán cân tổng thể (A + B + C + D) 13,2
F. Thay đổi tài sản dự trữ (tăng ghi âm) (13,2)
Tổng (E + F) 0,0

Hàng hóa thặng dư 30,0 tỷ USD, nhưng vãng lai chỉ còn 14,0 tỷ USD. FDI ròng 16,0 tỷ USD bù trọn dòng ra 12,0 tỷ USD của FPI và vay nợ.

Cán cân tổng thể thặng dư 13,2 tỷ USD, tương ứng dự trữ tăng 13,2 tỷ USD do giao dịch. Lỗi và sai sót âm 5,0 tỷ USD là con số cần đặt câu hỏi.

Lưu ý, thay đổi dự trữ trong BOP chỉ gồm giao dịch, chưa gồm chênh lệch đánh giá lại do giá vàng và tỷ giá chéo.

Thâm hụt tài khoản vãng lai có phải lúc nào cũng xấu?

Không. Thâm hụt vãng lai nghĩa là nền kinh tế đầu tư nhiều hơn tiết kiệm trong nước và vay phần chênh lệch từ nước ngoài. Tốt hay xấu tùy mục đích và nguồn tài trợ.

Theo hệ thống tài khoản quốc gia, tài khoản vãng lai bằng tiết kiệm quốc gia trừ đầu tư. Đây là đồng nhất thức hạch toán, không phải quan hệ nhân quả.

CA = S − I (S: tiết kiệm quốc gia; I: tổng đầu tư trong nước)

Giả sử nền kinh tế trên có GDP 450 tỷ USD, tiết kiệm 117 tỷ USD, đầu tư 103 tỷ USD. Khi đó CA = 117 − 103 = 14 tỷ USD, khớp với bảng.

Tiết kiệm bằng 26,00% GDP, đầu tư 22,89% GDP, thặng dư vãng lai 3,11% GDP. Cách đọc các tỷ lệ này có ở bài GDP và cách đọc số liệu tăng trưởng.

Thâm hụt tài trợ bằng FDI để tăng năng lực xuất khẩu khác hẳn thâm hụt tài trợ bằng vay ngắn hạn để tiêu dùng. Cần xem nguồn vốn, mục đích và đồng tiền của nợ.

Thặng dư vãng lai cũng không mặc nhiên là tốt, vì có thể phản ánh đầu tư trong nước yếu.

Thặng dư, thâm hụt tác động đến tỷ giá ra sao?

Thặng dư cán cân tổng thể nghĩa là cung ngoại tệ vượt cầu, tạo áp lực tăng giá nội tệ; thâm hụt thì ngược lại. Kết quả tùy chế độ tỷ giá.

Khi thả nổi, tỷ giá điều chỉnh là chính; khi có can thiệp, áp lực hiện ra ở dự trữ. Vì vậy, áp lực thị trường ngoại hối (exchange market pressure) cần đọc qua cả hai.

Ngân hàng trung ương mua ngoại tệ thì bơm nội tệ ra. Nếu không trung hòa (sterilization), cung tiền tăng, như phân tích ở bài cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng.

Chênh lệch lãi suất nội tệ và USD chi phối dòng vốn gián tiếp, nên lãi suất cũng là công cụ đỡ tỷ giá, như trình bày ở bài lãi suất điều hành.

Giới hạn: BOP công bố theo quý, có độ trễ, nên giải thích xu hướng trung hạn tốt hơn biến động tỷ giá ngắn hạn.

Dự trữ ngoại hối bao nhiêu tháng nhập khẩu là đủ?

Không có mức chung. Quy ước phổ biến là tối thiểu 3 tháng nhập khẩu, nhưng IMF đánh giá bằng nhiều thước đo theo cấu trúc rủi ro của từng nước.

Quy tắc 3 tháng nhập khẩu

Hướng dẫn năm 2016 của IMF coi 3 tháng nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ là mốc tham chiếu thường dùng, tính theo nhập khẩu dự kiến.

Số tháng nhập khẩu = Dự trữ ngoại hối ÷ (Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cả năm ÷ 12)

Giả sử dự trữ cuối kỳ là 100 tỷ USD. Nhập khẩu năm qua là 350 + 32 = 382 tỷ USD, bình quân 31,83 tỷ USD/tháng, nên dự trữ bằng 3,14 tháng.

Nếu nhập khẩu năm tới dự kiến 410 tỷ USD, tức 34,17 tỷ USD/tháng, mức che chắn còn 2,93 tháng. Muốn đủ 3 tháng cần 102,50 tỷ USD, thiếu 2,50 tỷ USD.

Giới hạn: thước đo này chỉ phản ánh rủi ro vãng lai, bỏ qua rủi ro dòng vốn rút đột ngột ở nền kinh tế mở cửa tài chính.

Quy tắc Greenspan–Guidotti

Quy tắc Greenspan–Guidotti yêu cầu dự trữ tối thiểu bằng 100% nợ nước ngoài ngắn hạn theo thời hạn còn lại, tức đủ trả nợ đến hạn trong 12 tháng.

Tỷ lệ Greenspan–Guidotti = Dự trữ ÷ Nợ ngắn hạn theo thời hạn còn lại × 100%

Nếu nợ ngắn hạn theo thời hạn còn lại là 60 tỷ USD, tỷ lệ là 166,7%. Bản mở rộng cộng thêm thâm hụt vãng lai dự kiến vào mẫu số.

Chỉ số ARA của IMF

Chỉ số ARA (Assessing Reserve Adequacy) cho thị trường mới nổi là tổng có trọng số của bốn nguồn rủi ro rút ngoại tệ, trọng số tùy chế độ tỷ giá.

Thành phần Tỷ giá cố định Tỷ giá thả nổi
Nợ nước ngoài ngắn hạn 30% 30%
Nợ phải trả danh mục khác 20% 15%
Cung tiền mở rộng (M2) 10% 5%
Xuất khẩu 10% 5%

Theo hướng dẫn của IMF, dự trữ bằng 100–150% chỉ số ARA được xem là tương đối đủ cho mục đích phòng ngừa. Đây là vùng tham khảo, không phải ngưỡng cứng.

Minh họa: nợ ngắn hạn 60, nợ danh mục khác 120, M2 600, xuất khẩu 400 tỷ USD. Trọng số thả nổi cho ARA = 18 + 18 + 30 + 20 = 86 tỷ USD.

Dự trữ 100 tỷ USD khi đó bằng 116,3% ARA. Với trọng số tỷ giá cố định, ARA là 142 tỷ USD và tỷ lệ chỉ còn 70,4%.

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu đọc số liệu này thế nào?

Doanh nghiệp nên dùng BOP như chỉ báo nền cho rủi ro tỷ giá và thanh khoản ngoại tệ, không phải công cụ dự báo.

Số liệu chính thức của Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mục thống kê khu vực đối ngoại. Để so sánh quốc tế, có thể tra dữ liệu IMF hoặc ADB.

Thứ tự đọc gợi ý: cán cân tổng thể, cơ cấu vãng lai, chất lượng dòng vốn vào, lỗi và sai sót, rồi số tháng nhập khẩu của dự trữ.

Ví dụ: trạng thái ngoại tệ của Công ty Minh Phát

Công ty giả định Minh Phát xuất khẩu 30 triệu USD/năm, nhập nguyên liệu 18 triệu USD/năm và có khoản vay 5 triệu USD đến hạn trong năm.

Trạng thái ngoại tệ ròng là 30 − 18 − 5 = 7 triệu USD trường vị (long). Với tỷ giá giả định 25.000 VND/USD, nội tệ mất giá 3% đưa tỷ giá lên 25.750.

Mỗi USD tăng 750 đồng, nên giá trị trạng thái ròng tăng 7 × 750 = 5.250 triệu đồng.

Nếu xuất khẩu chỉ 10 triệu USD, công ty đoản vị (short) 13 triệu USD và lỗ quy đổi 9.750 triệu đồng.

Vì vậy, CFO cần biết trạng thái của mình trước khi đọc tín hiệu vĩ mô. Xem thêm bài tỷ giá hối đoái và doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Nên gắn mỗi tín hiệu BOP với một biện pháp định trước, theo cách làm ở bài đưa kịch bản vĩ mô vào kế hoạch kinh doanh.

Rủi ro tỷ giá cũng cần có hạn mức và người chịu trách nhiệm trong khung quản trị rủi ro doanh nghiệp.

Những sai lầm thường gặp

Cán cân thanh toán dễ bị đọc sai vì quy ước dấu, độ trễ công bố và việc tách từng khoản khỏi bức tranh chung.

  • Đồng nhất thặng dư thương mại với thặng dư vãng lai, bỏ qua thu nhập sơ cấp.
  • Không kiểm tra quy ước dấu của tài khoản tài chính, dẫn đến đọc ngược chiều dòng vốn.
  • Bỏ qua lỗi và sai sót, dù khoản này có thể đổi dấu cán cân tổng thể.
  • Dùng một ngưỡng duy nhất như 3 tháng nhập khẩu để kết luận dự trữ đủ hay thiếu.
  • Dùng BOP để dự báo tỷ giá ngắn hạn, dù số liệu quý có độ trễ.

Câu hỏi thường gặp

Cán cân thanh toán khác cán cân thương mại thế nào?

Cán cân thương mại chỉ gồm xuất nhập khẩu hàng hóa, đôi khi cả dịch vụ. Cán cân thanh toán bao trùm thêm thu nhập, chuyển giao, dòng vốn và dự trữ.

Kiều hối được ghi vào đâu trong cán cân thanh toán?

Kiều hối từ người định cư ở nước ngoài ghi ở thu nhập thứ cấp. Lương của lao động ngắn hạn không cư trú ghi ở thu nhập sơ cấp.

Cán cân tổng thể dương có chắc làm nội tệ tăng giá?

Không chắc. Nếu ngân hàng trung ương mua ngoại tệ, thặng dư thể hiện qua dự trữ tăng. Kỳ vọng và chênh lệch lãi suất cũng chi phối tỷ giá ngắn hạn.

Nên dùng nhập khẩu năm qua hay năm tới để tính số tháng dự trữ?

Hướng dẫn của IMF đo theo nhập khẩu dự kiến, vì dự trữ dùng cho nhu cầu tương lai. Khi nhập khẩu tăng nhanh, dùng số năm qua sẽ đánh giá cao mức che chắn.

Nguồn tham khảo

Đọc tiếp

Bài viết mang tính kiến thức tham khảo, không phải tư vấn tài chính hay đầu tư. Số liệu của nền kinh tế minh họa và Công ty Minh Phát là giả định.

Cập nhật: (GMT+7)12 phút đọc