EPS (earnings per share) là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, bằng lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông chia cho số cổ phiếu phổ thông bình quân trong kỳ.
Với nhà đầu tư và người đi làm, EPS là nền của nhiều chỉ số khác như P/E hay tỷ lệ chi trả cổ tức. Hiểu sai EPS thì mọi phép so sánh phía sau đều sai.
Bài viết giải thích EPS cơ bản, EPS pha loãng theo chuẩn mực IAS 33 và cách đánh giá tăng trưởng EPS qua nhiều năm.
Những điểm chính
- EPS cơ bản dùng số cổ phiếu bình quân gia quyền theo thời gian lưu hành, không dùng số cổ phiếu cuối kỳ.
- Cổ phiếu thưởng và cổ tức cổ phiếu được điều chỉnh hồi tố cho mọi kỳ để EPS so sánh được.
- EPS pha loãng giả định mọi cổ phiếu tiềm năng có tác động pha loãng đều được chuyển đổi.
- Quyền chọn được tính theo phương pháp cổ phiếu quỹ; công cụ làm EPS tăng lên bị loại ra.
- Tăng trưởng EPS cần so với tăng trưởng lợi nhuận và số cổ phiếu để biết nguồn gốc thật.
EPS là gì?
EPS là phần lợi nhuận một kỳ thuộc về mỗi cổ phiếu phổ thông. Nếu EPS bằng 5.000 đồng, mỗi cổ phiếu tương ứng 5.000 đồng lợi nhuận trong năm.
Lợi nhuận tổng chưa nói được nhiều với cổ đông, vì số cổ phiếu mỗi doanh nghiệp khác nhau. EPS đưa lợi nhuận về đơn vị một cổ phiếu, nên so được với giá.
Chuẩn mực IAS 33 yêu cầu trình bày cả EPS cơ bản và EPS pha loãng với mức độ nổi bật như nhau. Hai con số thường nằm cuối báo cáo kết quả kinh doanh.
EPS cơ bản tính thế nào?
EPS cơ bản bằng lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông của công ty mẹ chia cho số cổ phiếu phổ thông bình quân gia quyền lưu hành trong kỳ.
EPS cơ bản = (Lợi nhuận sau thuế thuộc công ty mẹ − Cổ tức ưu đãi) ÷ Số cổ phiếu phổ thông bình quân gia quyền
Tử số phải loại phần lợi nhuận thuộc cổ đông không kiểm soát và cổ tức của cổ phiếu ưu đãi. Phần còn lại mới thực sự thuộc về cổ đông phổ thông.
Giả định Công ty Thành An lãi 520 tỷ đồng thuộc công ty mẹ trong năm 2025. Cổ tức ưu đãi là 20 tỷ đồng, nên tử số EPS là 500 tỷ đồng.
Lợi nhuận dùng để tính EPS là lợi nhuận kế toán. Muốn biết con số này có chất lượng không, xem thêm bài chất lượng lợi nhuận.
Số cổ phiếu bình quân gia quyền tính ra sao?
Số cổ phiếu bình quân gia quyền là số cổ phiếu đầu kỳ cộng các lần tăng, trừ các lần giảm, mỗi lần nhân với tỷ lệ thời gian lưu hành trong kỳ.
Cổ phiếu bình quân gia quyền = Σ (Số cổ phiếu của từng đợt × Số tháng lưu hành ÷ 12)
Ví dụ với Công ty Thành An
Thành An có 90 triệu cổ phiếu đầu năm. Ngày 1/4 công ty phát hành thêm 12 triệu cổ phiếu, ngày 1/10 mua lại 3 triệu cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ.
| Sự kiện | Số cổ phiếu (triệu) | Tỷ lệ thời gian | Bình quân (triệu) |
|---|---|---|---|
| Đầu năm | 90 | 12/12 | 90,00 |
| Phát hành ngày 1/4 | 12 | 9/12 | 9,00 |
| Mua lại ngày 1/10 | (3) | 3/12 | (0,75) |
| Bình quân gia quyền | 98,25 |
EPS cơ bản năm 2025 = 500 tỷ ÷ 98,25 triệu = 5.089 đồng. Nếu dùng 99 triệu cổ phiếu cuối kỳ, EPS chỉ còn khoảng 5.051 đồng.
Lý do dùng bình quân là cổ phiếu mới phát hành chỉ góp vốn tạo lợi nhuận trong phần thời gian còn lại của năm. Dùng số cuối kỳ sẽ làm EPS lệch.
Cổ phiếu thưởng và cổ tức cổ phiếu làm EPS thay đổi thế nào?
Cổ phiếu thưởng, cổ tức cổ phiếu và chia tách làm tăng số cổ phiếu mà không thu thêm tiền, nên EPS giảm tương ứng. IAS 33 yêu cầu điều chỉnh hồi tố cho mọi kỳ trình bày.
Điều chỉnh hồi tố nghĩa là coi như số cổ phiếu mới đã tồn tại từ đầu kỳ sớm nhất. Nhờ đó, EPS các năm vẫn so sánh được với nhau.
Giả sử đầu năm 2026 Thành An chia cổ tức cổ phiếu 10%. EPS năm 2025 sẽ được trình bày lại là 5.089 ÷ 1,1 = 4.626 đồng.
Điều chỉnh áp dụng cả khi sự kiện xảy ra sau ngày khóa sổ, trước ngày phát hành báo cáo. Cơ chế giá đi kèm có ở bài cổ tức tiền mặt và cổ tức cổ phiếu.
Phát hành cho cổ đông hiện hữu với giá thấp hơn giá thị trường cũng có yếu tố thưởng. Trường hợp này IAS 33 cũng yêu cầu điều chỉnh số cổ phiếu các kỳ trước.
EPS pha loãng là gì?
EPS pha loãng (diluted EPS) là EPS tính lại khi giả định mọi cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động pha loãng đều đã chuyển đổi. Đây là kịch bản thận trọng.
Cổ phiếu phổ thông tiềm năng là công cụ có thể trở thành cổ phiếu phổ thông. Các loại hay gặp được liệt kê dưới đây.
- Quyền chọn và chứng quyền: cho phép người nắm giữ mua cổ phiếu với giá định trước.
- Trái phiếu chuyển đổi: có thể đổi thành cổ phiếu theo tỷ lệ chuyển đổi.
- Cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi: có thể đổi sang cổ phiếu phổ thông.
- Cổ phiếu phát hành có điều kiện: sẽ phát hành khi đạt một mục tiêu nhất định.
Chỉ công cụ làm EPS giảm mới được đưa vào. Công cụ làm EPS tăng gọi là chống pha loãng (antidilutive) và bị loại khỏi phép tính.
EPS pha loãng = (Tử số EPS cơ bản + Điều chỉnh lợi nhuận do chuyển đổi) ÷ (Cổ phiếu bình quân + Cổ phiếu tiềm năng pha loãng)
Phương pháp cổ phiếu quỹ tính quyền chọn thế nào?
Phương pháp cổ phiếu quỹ (treasury stock method) giả định tiền thu từ thực hiện quyền chọn được dùng mua lại cổ phiếu theo giá thị trường bình quân. Chỉ phần chênh lệch được cộng vào mẫu số.
Cổ phiếu tăng thêm = Số quyền chọn − (Số quyền chọn × Giá thực hiện ÷ Giá thị trường bình quân)
Thành An có 4 triệu quyền chọn cho nhân viên, giá thực hiện 30.000 đồng. Giá thị trường bình quân trong năm là 50.000 đồng.
Tiền thu được đủ mua lại 4 × 30.000 ÷ 50.000 = 2,4 triệu cổ phiếu. Số cổ phiếu coi như phát hành không thu tiền là 1,6 triệu.
Quyền chọn chỉ pha loãng khi giá bình quân cao hơn giá thực hiện. Nếu giá thực hiện là 60.000 đồng, quyền chọn chống pha loãng và bị loại.
Tài liệu của IASB ghi nhận cách diễn đạt “mua lại cổ phiếu” chỉ là quy ước tính toán. Doanh nghiệp không nhất thiết thực sự dùng tiền mua lại cổ phiếu.
Trái phiếu chuyển đổi được đưa vào EPS pha loãng ra sao?
Với trái phiếu chuyển đổi, tử số được cộng lại chi phí lãi sau thuế, mẫu số được cộng số cổ phiếu nhận khi chuyển đổi. Lý do là khi chuyển đổi, doanh nghiệp không còn trả lãi.
Thành An có trái phiếu chuyển đổi được 6 triệu cổ phiếu. Chi phí lãi sau thuế giả định là 19,2 tỷ đồng mỗi năm.
EPS tăng thêm của trái phiếu = 19,2 tỷ ÷ 6 triệu = 3.200 đồng. Mức này thấp hơn EPS sau khi tính quyền chọn, nên trái phiếu có tác động pha loãng.
IAS 33 yêu cầu xét từng công cụ theo thứ tự từ pha loãng nhiều nhất đến ít nhất. Quyền chọn không làm tăng tử số nên được xét trước.
| Bước tính | Tử số (tỷ đồng) | Mẫu số (triệu cổ phiếu) | EPS (đồng) |
|---|---|---|---|
| EPS cơ bản | 500,0 | 98,25 | 5.089 |
| Cộng quyền chọn | 500,0 | 99,85 | 5.008 |
| Cộng trái phiếu chuyển đổi | 519,2 | 105,85 | 4.905 |
EPS pha loãng của Thành An là 4.905 đồng, thấp hơn EPS cơ bản 3,6%. Khoảng cách này cho biết mức pha loãng tiềm năng cổ đông cần tính đến.
Đánh giá tăng trưởng EPS thế nào cho đúng?
Nên đánh giá tăng trưởng EPS bằng tốc độ tăng trưởng kép nhiều năm (CAGR), đặt cạnh tăng trưởng lợi nhuận và số cổ phiếu. Một năm tăng mạnh chưa nói lên xu hướng.
CAGR của EPS = (EPS năm cuối ÷ EPS năm đầu)^(1 ÷ Số năm) − 1
Bảng dưới là số liệu giả định của Thành An trong 5 năm. Lợi nhuận tăng đều, nhưng số cổ phiếu cũng tăng do phát hành thêm.
| Năm | Lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông (tỷ đồng) | Cổ phiếu bình quân (triệu) | EPS (đồng) | Tăng trưởng EPS |
|---|---|---|---|---|
| 2021 | 300 | 70,00 | 4.286 | – |
| 2022 | 340 | 75,00 | 4.533 | 5,8% |
| 2023 | 390 | 82,00 | 4.756 | 4,9% |
| 2024 | 445 | 90,00 | 4.944 | 4,0% |
| 2025 | 500 | 98,25 | 5.089 | 2,9% |
Lợi nhuận tăng trưởng kép 13,6% mỗi năm, nhưng EPS chỉ tăng 4,4% mỗi năm. Số cổ phiếu bình quân tăng 8,8% mỗi năm đã lấy đi phần lớn tăng trưởng.
Tốc độ tăng EPS cũng chậm dần, từ 5,8% xuống 2,9%. Cổ đông hiện hữu hưởng ít hơn nhiều so với con số lợi nhuận tổng gợi ý.
Cách tính CAGR dựa trên cùng nguyên lý với lãi kép và giá trị thời gian của tiền. Nên tính trên ít nhất 3–5 năm để giảm nhiễu.
Vì sao EPS tăng chưa chắc doanh nghiệp tốt hơn?
EPS tăng chưa chắc doanh nghiệp tốt hơn vì EPS có thể tăng nhờ giảm số cổ phiếu hoặc nhờ khoản lãi một lần, không phải nhờ kinh doanh cải thiện.
Mua lại cổ phiếu
Giả định Công ty Minh Phát lãi đi ngang 400 tỷ đồng, nhưng mua lại làm số cổ phiếu giảm từ 100 triệu xuống 90 triệu. EPS tăng từ 4.000 lên 4.444 đồng.
EPS tăng 11,1% dù lợi nhuận không đổi. Mua lại chỉ tạo giá trị khi giá mua thấp hơn giá trị nội tại, như chương trình CFA phân tích.
Khoản lãi không lặp lại
Lãi bán tài sản, hoàn nhập dự phòng hay chênh lệch tỷ giá có thể đẩy EPS tăng vọt một năm. Nên tách EPS cốt lõi trước khi tính tăng trưởng.
Đòn bẩy tăng
Vay nợ để mở rộng có thể làm EPS và ROE tăng nhưng kéo theo rủi ro cao hơn. Phân tích DuPont giúp thấy ROE tăng vì biên lợi nhuận hay vì đòn bẩy.
- Kiểm tra dòng tiền: EPS tăng mà dòng tiền hoạt động giảm là dấu hiệu cần xem kỹ.
- Kiểm tra số cổ phiếu: so tốc độ tăng EPS với tốc độ tăng lợi nhuận tổng.
- Kiểm tra thuyết minh: tìm khoản thu nhập khác và lãi bất thường trong báo cáo.
Các khoản mục trên được trình bày ở bài đọc hiểu báo cáo tài chính doanh nghiệp. Đây là bước nên làm trước khi tin vào xu hướng EPS.
EPS liên hệ thế nào với P/E và cổ tức?
EPS là mẫu số của P/E và là cơ sở của tỷ lệ chi trả cổ tức. Vì vậy, mọi điều chỉnh EPS đều làm thay đổi hai chỉ số này.
Với giá giả định 49.050 đồng, P/E của Thành An là 9,6 lần theo EPS cơ bản và 10,0 lần theo EPS pha loãng. Khác biệt nhỏ nhưng cần thống nhất khi so sánh.
Cách đọc P/E trượt, P/E dự phóng và PEG được trình bày trong bài chỉ số P/E. EPS sạch là điều kiện để các phép tính đó có ý nghĩa.
Những sai lầm thường gặp
Sai lầm về EPS thường đến từ việc lấy số liệu mà không hỏi cách tính. Dưới đây là những lỗi phổ biến.
- Dùng số cổ phiếu cuối kỳ: bỏ qua thời điểm phát hành hay mua lại trong năm.
- Không điều chỉnh hồi tố: so EPS trước và sau cổ phiếu thưởng như hai con số cùng cơ sở.
- Bỏ qua EPS pha loãng: doanh nghiệp có nhiều quyền chọn, trái phiếu chuyển đổi thì EPS cơ bản quá lạc quan.
- Xem tăng trưởng một năm: một năm tăng mạnh có thể do khoản lãi một lần.
- Quên số cổ phiếu tăng: lợi nhuận tăng nhanh nhưng EPS tăng chậm vì phát hành thêm liên tục.
Câu hỏi thường gặp
EPS bao nhiêu là tốt?
EPS tuyệt đối không nói lên tốt hay xấu, vì phụ thuộc số cổ phiếu và mệnh giá. Điều quan trọng là xu hướng tăng trưởng EPS và mức giá so với EPS.
Nên dùng EPS cơ bản hay EPS pha loãng?
Nên ưu tiên EPS pha loãng khi doanh nghiệp có nhiều công cụ có thể chuyển thành cổ phiếu. Nếu không có, hai con số bằng nhau.
EPS âm có ý nghĩa gì?
EPS âm nghĩa là doanh nghiệp lỗ trong kỳ. Khi đó P/E không dùng được và cần xem nguyên nhân lỗ là tạm thời hay kéo dài.
EPS trượt 4 quý là gì?
EPS trượt là tổng EPS của bốn quý gần nhất, cập nhật mỗi khi có báo cáo quý mới. Con số này phản ánh lợi nhuận 12 tháng gần nhất.
Nguồn tham khảo
- IAS 33 Earnings per Share – IFRS Foundation (truy cập 10/2026)
- Earnings per Share: Treasury Stock Method (Observer Notes) – IASB, 2006
- IAS 33 Earnings Per Share – Moore Global, 2025
- Analyzing Income Statements – CFA Institute, 2026
- Analysis of Dividends and Share Repurchases – CFA Institute, 2026
- Earnings Multiples (Chapter 18, Investment Valuation) – Aswath Damodaran, NYU Stern, 2012
Đọc tiếp
- Chất lượng lợi nhuận: tỷ lệ dồn tích, Beneish M-Score và dấu hiệu báo cáo tài chính bị làm đẹp
- Chỉ số P/E: cách tính, P/E trượt và dự phóng, khi nào P/E thấp chưa chắc đã rẻ
- Cổ tức tiền mặt và cổ tức cổ phiếu: tỷ suất cổ tức, tỷ lệ chi trả và tác động đến giá
- Phân tích DuPont: tách ROE thành 3 và 5 yếu tố để biết lợi nhuận đến từ đâu
Bài viết mang tính kiến thức tham khảo, không phải tư vấn tài chính hay đầu tư. Thành An, Minh Phát và mọi số liệu lợi nhuận, cổ phiếu, quyền chọn, giá trong bài là giả định.

Cổ tức tiền mặt và cổ tức cổ phiếu: tỷ suất cổ tức, tỷ lệ chi trả và tác động đến giá
Chỉ số P/E: cách tính, P/E trượt và dự phóng, khi nào P/E thấp chưa chắc đã rẻ
Nguyên lý bút toán kép: nợ – có, phương trình kế toán và ví dụ cho người không chuyên