Chỉ số P/E: cách tính, P/E trượt và dự phóng, khi nào P/E thấp chưa chắc đã rẻ

P/E là tỷ lệ giữa giá cổ phiếu và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS), cho biết nhà đầu tư trả bao nhiêu cho mỗi đồng lãi. Bài viết giải thích cách tính P/E, P/E trượt và dự phóng, PEG, P/E nghịch đảo và bẫy giá trị.

Biểu đồ cột so sánh P/E báo cáo và P/E điều chỉnh của ba doanh nghiệp giả định Minh Phát, Thành An, Phú Gia

Chỉ số P/E (price-to-earnings ratio) là tỷ lệ giữa giá cổ phiếu và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS). P/E cho biết nhà đầu tư trả bao nhiêu đồng cho mỗi đồng lợi nhuận.

Với nhà đầu tư và người đi làm, P/E thường là con số đầu tiên được nhìn tới. Tuy vậy, cùng một P/E có thể mang ý nghĩa rất khác nhau.

Bài viết giải thích cách tính P/E, P/E trượt và dự phóng, PEG, P/E nghịch đảo và những trường hợp P/E thấp chưa chắc đã rẻ.

Những điểm chính

  • P/E bằng giá cổ phiếu chia EPS, hoặc vốn hóa chia lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông.
  • P/E trượt dùng EPS bốn quý gần nhất; P/E dự phóng dùng EPS ước tính nên phụ thuộc chất lượng dự báo.
  • P/E phản ánh kỳ vọng về tăng trưởng, rủi ro và tỷ lệ chi trả; doanh nghiệp rủi ro cao thường có P/E thấp.
  • P/E thấp có thể là bẫy giá trị khi lợi nhuận chứa khoản bất thường hoặc đang ở đỉnh chu kỳ.
  • Chỉ so sánh P/E cùng ngành, cùng định nghĩa EPS và cùng kỳ; P/E vô nghĩa khi doanh nghiệp lỗ.

P/E là gì?

P/E là bội số định giá cho biết giá cổ phiếu gấp bao nhiêu lần lợi nhuận một năm của mỗi cổ phiếu. P/E bằng 15 nghĩa là thị trường trả 15 đồng cho mỗi đồng lợi nhuận.

P/E thuộc nhóm định giá tương đối, tức so sánh doanh nghiệp với các doanh nghiệp tương tự. Cách này khác chiết khấu dòng tiền, vốn ước tính giá trị nội tại.

Có thể hiểu P/E như “số năm hoàn vốn” nếu lợi nhuận đứng yên và được trả hết cho cổ đông. Cách hiểu này chỉ để minh họa, vì lợi nhuận thực tế luôn thay đổi.

P/E được tính thế nào?

P/E được tính bằng giá thị trường một cổ phiếu chia cho EPS cùng kỳ. Ở cấp doanh nghiệp, có thể lấy vốn hóa chia lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông.

P/E = Giá thị trường mỗi cổ phiếu ÷ EPS = Vốn hóa thị trường ÷ Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông phổ thông

Hai cách cho cùng kết quả nếu số cổ phiếu khớp nhau. Sai lệch thường xuất hiện khi doanh nghiệp vừa phát hành thêm hoặc mua lại cổ phiếu trong kỳ.

Mẫu số EPS là phần dễ hiểu sai nhất. Cách tính EPS cơ bản, pha loãng và số cổ phiếu bình quân có trong bài EPS là gì: EPS cơ bản, EPS pha loãng.

Theo chuẩn mực IAS 33, EPS dựa trên lợi nhuận thuộc cổ đông phổ thông của công ty mẹ. Lợi ích cổ đông không kiểm soát và cổ tức ưu đãi phải loại ra trước.

P/E trượt và P/E dự phóng khác nhau thế nào?

P/E trượt (trailing P/E) dùng EPS đã thực hiện của bốn quý gần nhất. P/E dự phóng (forward P/E) dùng EPS ước tính cho 12 tháng hoặc năm tài chính tới.

Ví dụ với Công ty Minh Phát

Giả định cổ phiếu Minh Phát có giá 45.000 đồng. EPS bốn quý gần nhất là 700, 720, 760 và 820 đồng. EPS năm tới được ước tính 3.600 đồng.

Chỉ tiêu Giá trị
EPS bốn quý gần nhất (đồng) 700 + 720 + 760 + 820
EPS trượt (đồng) 3.000
P/E trượt = 45.000 ÷ 3.000 (lần) 15,0
EPS dự phóng (đồng) 3.600
P/E dự phóng = 45.000 ÷ 3.600 (lần) 12,5
Tăng trưởng EPS ngầm định 20,0%

P/E dự phóng thấp hơn vì lợi nhuận được kỳ vọng tăng 20%. Nếu kỳ vọng không thành hiện thực, mức 12,5 lần chỉ là con số trên giấy.

Ưu và nhược điểm của từng loại

  • P/E trượt: dựa trên số liệu đã công bố, dễ kiểm chứng, nhưng có thể lạc hậu khi doanh nghiệp thay đổi nhanh.
  • P/E dự phóng: gắn với tương lai, hợp với doanh nghiệp tăng trưởng, nhưng dễ sai vì dự báo thường lạc quan.
  • Nguyên tắc dùng: luôn ghi rõ loại P/E, không đặt P/E trượt cạnh P/E dự phóng khi so sánh.

P/E cho biết điều gì về kỳ vọng của thị trường?

P/E phản ánh ba yếu tố: tốc độ tăng trưởng, mức rủi ro (lợi suất yêu cầu) và tỷ lệ chi trả cho cổ đông. Kết luận này rút ra từ mô hình chiết khấu cổ tức.

Với doanh nghiệp tăng trưởng ổn định, mô hình Gordon cho phép viết P/E dự phóng thành công thức gọn. Công thức giúp hiểu vì sao hai doanh nghiệp có P/E khác nhau.

P/E dự phóng hợp lý = Tỷ lệ chi trả ÷ (r − g), với g = ROE × (1 − Tỷ lệ chi trả)

Trong đó r là lợi suất yêu cầu, g là tăng trưởng dài hạn. ROE có thể tách thành các yếu tố bằng phân tích DuPont.

Kịch bản giả định Tỷ lệ chi trả ROE r g P/E hợp lý (lần)
Cơ sở 40% 15% 14% 9,0% 8,0
Rủi ro thấp hơn 40% 15% 12% 9,0% 13,3
ROE cao hơn 40% 20% 14% 12,0% 20,0

Chỉ cần lợi suất yêu cầu giảm 2 điểm phần trăm, P/E hợp lý tăng từ 8,0 lên 13,3 lần. Khi ROE lên 20%, P/E hợp lý đạt 20,0 lần.

Như vậy, P/E thấp có thể chỉ phản ánh rủi ro cao hoặc sinh lời thấp. Tỷ lệ chi trả được giải thích ở bài cổ tức tiền mặt và cổ tức cổ phiếu.

P/E nghịch đảo (earnings yield) dùng để làm gì?

P/E nghịch đảo, hay earnings yield (E/P), bằng EPS chia giá cổ phiếu. Chỉ số này biểu diễn lợi nhuận dưới dạng phần trăm, dễ đặt cạnh lãi suất.

Earnings yield = EPS ÷ Giá cổ phiếu = 1 ÷ P/E

Với Minh Phát, earnings yield trượt là 3.000 ÷ 45.000 = 6,67%. Earnings yield dự phóng là 3.600 ÷ 45.000 = 8,0%.

Earnings yield không phải tiền mặt nhà đầu tư nhận được. Phần lợi nhuận giữ lại chỉ tạo giá trị nếu được tái đầu tư với tỷ suất cao hơn chi phí vốn.

Lợi nhuận doanh nghiệp có thể tăng theo lạm phát, còn lãi suất danh nghĩa thì cố định. Vì vậy, cần hiểu lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa trước khi so sánh.

Khi lợi nhuận gần bằng 0, P/E tăng vọt và khó đọc. Earnings yield chỉ tiến về 0 nên vẫn dùng để xếp hạng được.

PEG là gì và dùng thế nào cho đúng?

PEG (price/earnings to growth) là P/E chia cho tốc độ tăng trưởng EPS kỳ vọng tính bằng số phần trăm. PEG xem P/E có tương xứng với tăng trưởng không.

PEG = P/E ÷ Tốc độ tăng trưởng EPS kỳ vọng (số phần trăm)

Với Minh Phát, PEG = 15,0 ÷ 20 = 0,75. Cách đọc phổ biến coi PEG dưới 1 là giá thấp so với tăng trưởng, nhưng đây chỉ là gợi ý.

Giáo sư Aswath Damodaran lưu ý nên dùng P/E trượt khi tính PEG. Dùng P/E dự phóng sẽ đếm tăng trưởng hai lần vì mẫu số đã chứa phần tăng trưởng.

  • PEG không tính rủi ro: doanh nghiệp rủi ro cao thường có PEG thấp mà vẫn được định giá hợp lý.
  • PEG không trung tính với tăng trưởng: quan hệ giữa PEG và tăng trưởng có dạng chữ U.
  • Tăng trưởng là ước tính: thay đổi nhỏ trong dự báo làm PEG dao động mạnh.

Vì sao P/E thấp chưa chắc đã rẻ?

P/E thấp chưa chắc đã rẻ vì EPS có thể đang cao bất thường hoặc sắp giảm. Mua cổ phiếu P/E thấp rồi giá tiếp tục giảm được gọi là bẫy giá trị (value trap).

Bảng dưới so sánh ba doanh nghiệp giả định. Hai doanh nghiệp có P/E báo cáo thấp hơn Minh Phát, nhưng vì lý do khác nhau.

Doanh nghiệp Giá (đồng) EPS báo cáo (đồng) P/E báo cáo (lần) EPS điều chỉnh (đồng) P/E điều chỉnh (lần)
Minh Phát (đối chiếu) 45.000 3.000 15,0 3.000 15,0
Thành An (có lãi bất thường) 18.000 3.000 6,0 1.500 12,0
Phú Gia (đỉnh chu kỳ) 30.000 6.000 5,0 3.000 10,0

Lợi nhuận chứa khoản bất thường

Thành An có 100 triệu cổ phiếu, lãi 300 tỷ đồng, trong đó 150 tỷ đồng là lãi bán tài sản một lần. Loại khoản này, EPS cốt lõi còn 1.500 đồng, P/E thực chất là 12,0 lần.

Cách nhận diện khoản lãi không lặp lại có trong bài chất lượng lợi nhuận. Đây là bước nên làm trước khi tin vào P/E thấp.

Lợi nhuận đang ở đỉnh chu kỳ

Phú Gia thuộc ngành chu kỳ. EPS năm năm gần nhất lần lượt là 2.000, 2.000, 1.500, 3.500 và 6.000 đồng, bình quân 3.000 đồng.

Theo EPS bình quân, P/E chuẩn hóa của Phú Gia là 10,0 lần, gấp đôi mức 5,0 lần. Với ngành nhạy cảm với chu kỳ kinh tế, P/E thường thấp nhất khi lợi nhuận sắp giảm.

Rủi ro cao hoặc mô hình kinh doanh suy giảm

Như bảng kịch bản ở trên, P/E thấp có thể là mức hợp lý cho doanh nghiệp rủi ro cao hoặc ROE thấp. P/E thấp khi đó phản ánh đúng giá trị, không phải cơ hội.

Nghiên cứu của Piotroski (2000) cho thấy nhóm cổ phiếu giá trị gồm cả doanh nghiệp tốt lẫn yếu. Các chỉ tiêu dòng tiền, đòn bẩy và biên lợi nhuận giúp tách hai nhóm.

Nên so sánh P/E với cái gì?

P/E chỉ có ý nghĩa khi so với một mốc phù hợp. Một con số P/E đứng riêng lẻ gần như không nói lên điều gì về đắt hay rẻ.

  • Doanh nghiệp cùng ngành: cùng mô hình kinh doanh nên rủi ro và tăng trưởng gần nhau hơn.
  • Lịch sử của chính doanh nghiệp: hữu ích nếu mô hình kinh doanh và cơ cấu vốn không đổi nhiều.
  • P/E hợp lý theo nền tảng: dùng tỷ lệ chi trả, ROE và lợi suất yêu cầu để kiểm tra mức thị trường đang trả.
  • Thống nhất định nghĩa: cùng loại EPS, cùng kỳ và cùng cách xử lý khoản bất thường.

Damodaran cũng lưu ý khác biệt kế toán, như ghi nhận chi phí nghiên cứu hay quyền chọn nhân viên, làm P/E khó so sánh. Vì vậy cần đọc thuyết minh báo cáo tài chính.

P/E chỉ là một công cụ định giá. Cách phối hợp với DCF và EV/EBITDA có trong bài định giá doanh nghiệp: DCF, P/E, EV/EBITDA.

Khi nào P/E không dùng được?

P/E mất ý nghĩa khi doanh nghiệp lỗ, lợi nhuận quá nhỏ hoặc biến động mạnh. Khi đó nên chuyển sang bội số khác hoặc định giá bằng dòng tiền.

  • Doanh nghiệp lỗ: P/E âm không diễn giải được, thường được ghi là “không xác định”.
  • Lợi nhuận gần bằng 0: P/E có thể lên hàng trăm lần dù giá không đắt.
  • Doanh nghiệp đang đầu tư mạnh: lợi nhuận tạm thấp do chi phí tăng trưởng, nên giá/doanh thu hoặc DCF phù hợp hơn.
  • Đòn bẩy khác nhau nhiều: chi phí lãi vay làm P/E của doanh nghiệp vay nhiều khó so với doanh nghiệp không vay.

Khi đòn bẩy khác nhau, bội số theo giá trị doanh nghiệp thường được ưu tiên. Bài EBITDA là gì giải thích vì sao EV/EBITDA ít chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn.

Nên dùng P/E thế nào trong quy trình phân tích?

Nên dùng P/E để sàng lọc và kiểm tra chéo, không phải kết luận cuối cùng. Quy trình hợp lý đi từ làm sạch EPS đến so sánh và giải thích chênh lệch.

  • Bước 1 – Làm sạch EPS: loại khoản bất thường, dùng EPS pha loãng nếu có trái phiếu chuyển đổi hoặc quyền chọn.
  • Bước 2 – Chọn loại P/E: P/E trượt cho doanh nghiệp ổn định, P/E chuẩn hóa cho ngành chu kỳ.
  • Bước 3 – So với mốc: đặt cạnh doanh nghiệp cùng ngành và lịch sử của chính doanh nghiệp.
  • Bước 4 – Giải thích chênh lệch: tìm nguyên nhân ở tăng trưởng, ROE và rủi ro.
  • Bước 5 – Kiểm tra dòng tiền: so lợi nhuận với dòng tiền hoạt động để chắc lợi nhuận có thực chất.

Cuối cùng, hãy hỏi mức P/E đang hàm ý thị trường kỳ vọng tăng trưởng bao nhiêu. Nếu kỳ vọng đó khó đạt, P/E cao là rủi ro đáng cân nhắc.

Những sai lầm thường gặp

Phần lớn sai lầm đến từ việc tin vào một con số mà không hỏi nó được tính ra sao. Dưới đây là những lỗi hay gặp nhất.

  • Coi P/E thấp là rẻ: bỏ qua khoản lãi bất thường, đỉnh chu kỳ hoặc lợi nhuận sắp suy giảm.
  • Trộn P/E trượt và dự phóng: so sánh hai doanh nghiệp bằng hai loại P/E khác nhau.
  • So P/E khác ngành: ngành khác nhau có rủi ro và tăng trưởng khác nhau.
  • Dùng P/E dự phóng khi tính PEG: tăng trưởng bị đếm hai lần, PEG trông hấp dẫn hơn thực tế.
  • Bỏ qua pha loãng: dùng EPS cơ bản dù doanh nghiệp có nhiều trái phiếu chuyển đổi, quyền chọn.
  • Diễn giải P/E khi lỗ: P/E âm hoặc quá lớn không phản ánh mức định giá.

Câu hỏi thường gặp

P/E bao nhiêu là hợp lý?

Không có mức P/E hợp lý chung cho mọi cổ phiếu. Mức hợp lý phụ thuộc tăng trưởng, rủi ro và tỷ lệ chi trả của từng doanh nghiệp.

P/E trượt hay P/E dự phóng đáng tin hơn?

P/E trượt đáng tin hơn về số liệu vì dựa trên kết quả đã công bố. P/E dự phóng gắn với tương lai nhưng phụ thuộc chất lượng dự báo, nên xem cả hai.

Vì sao doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có P/E cao?

Vì giá cổ phiếu phản ánh lợi nhuận tương lai, không chỉ lợi nhuận hôm nay. Kỳ vọng tăng trưởng càng cao, thị trường càng sẵn sàng trả nhiều hơn.

P/E của chỉ số thị trường có ý nghĩa gì?

P/E của chỉ số là tổng vốn hóa chia tổng lợi nhuận các doanh nghiệp trong rổ. Con số này phụ thuộc cơ cấu ngành, nên so giữa các thị trường cần thận trọng.

Nguồn tham khảo

Đọc tiếp

Bài viết mang tính kiến thức tham khảo, không phải tư vấn tài chính hay đầu tư. Minh Phát, Thành An, Phú Gia cùng mọi số liệu giá, EPS, ROE trong bài là giả định.

Cập nhật: (GMT+7)12 phút đọc